“Bí ẩn” lập trường của Chủ tịch Fed về lạm phát trước sự kiện Jackson Hole
Câu hỏi lớn nhất mà ông Warsh đối mặt khi bước lên sân khấu ở Jackson Hole lần này là mức lạm phát cao ở Mỹ hiện nay chỉ là hệ quả của các cú sốc tạm thời như thuế quan và chiến tranh, hay do nền kinh tế đang vận hành nóng...

Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) Kevin Warsh đang chuẩn bị bước vào một thử thách lớn. Đó là bài phát biểu tại hội nghị thường niên của Fed tại Jackson Hole, Wyoming vào ngày thứ Sáu (26/8).
Câu trả lời cho câu hỏi này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc liệu Fed có cần tăng lãi suất hay không - một vấn đề đang gây chia rẽ trong nội bộ Fed. Trong cuộc họp tháng 7, có 3 thành viên Thị trường mở Liên bang (FOMC) đã bỏ phiếu ủng hộ việc tăng lãi suất, bên cạnh một số thành viên khác tỏ ra sẵn sàng gia nhập hàng ngũ những người có quan điểm muốn thắt chặt này.
Đến hiện tại, ông Warsh chưa công khai quan điểm của ông về lạm phát, và khoảng trống thông tin này chính là một phần trong chính sách giảm bớt việc phát tín hiệu tới thị trường được áp dụng kể từ khi ông trở thành chủ tịch Fed.
Đối với bài phát biểu sắp tới của ông Warsh, nhà đầu tư - và cả các đồng nghiệp của ông - muốn biết ông có đánh giá như thế nào về tình trạng hiện tại của nền kinh tế Mỹ và điều gì có thể khiến ông thay đổi lập trường chính sách.
Khi được trao cương vị nhà lãnh đạo ngân hàng trung ương quyền lực nhất thế giới, ông Warsh tiếp quản một nền kinh tế có thể được hiểu theo hai cách với những hệ quả trái ngược đối với chính sách tiền tệ.
Trong kịch bản đầu tiên, việc lạm phát ở Mỹ cao hơn mục tiêu trong suốt hơn một năm qua là do một loạt các cú sốc tạm thời, như thuế quan và sự gián đoạn nguồn cung năng lượng từ cuộc chiến tranh giữa Mỹ và Iran. Ở kịch bản như vậy, Fed không cần phải tăng lãi suất để ứng phó với những cú sốc này, vì tin rằng khi các cú sốc đó dịu đi, lạm phát sẽ tự giảm.
Trong kịch bản thứ hai, những cú sốc nói trên đang che giấu những mất cân đối sâu sắc hơn: nhu cầu vượt quá cung và cho phép các doanh nghiệp tăng giá. Loại lạm phát này không tự giảm mà đòi hỏi Fed phải hành động.
Dữ liệu lạm phát của Mỹ có phần yếu đi trong 2 tháng qua, theo phản ánh qua chỉ số giá tiêu dùng (CPI), đã tạm thời giảm áp lực tăng lãi suất tại cuộc họp tiếp theo của Fed vào tháng 9. Tuy nhiên, chưa thể kết luận liệu mức lãi suất hiện tại của Fed đã đủ thắt chặt để kéo lạm phát giảm thêm hay không, nhất là khi cuộc chiến ở Vùng Vịnh, thuế quan mới và làn sóng đầu tư AI đang đe dọa gây áp lực tăng giá kéo dài.
Ông Warsh đã cam kết cải tổ Fed dựa trên đánh giá rằng tổ chức này đã thất bại trong nhiệm vụ chính là duy trì lạm phát ở mức thấp. Chương trình nghị sự này dựa trên việc chẩn đoán nguyên nhân khiến lạm phát cao.
Lạm phát - tính theo thước đo được Fed ưa chuộng là chỉ số giá tiêu dùng cá nhân (PCE) - đã giảm từ mức đỉnh khoảng 7% trong giai đoạn hậu đại dịch Covid-19 xuống dưới 3%, sau đó tăng nhẹ và chững lại ở vùng dưới 4%. Đến hiện tại, chỉ số lạm phát này đã cao hơn mục tiêu 2% của Fed trong hơn 5 năm.
Số liệu công bố ngày 26/8 cho thấy PCE toàn phần tháng 7 tăng 3,7% so với cùng kỳ năm trước, còn PCE lõi tăng 3,3%.
Các đồng nghiệp của ông Warsh tại Fed hiện không có một quan điểm đồng nhất về việc liệu lãi suất hiện tại của Fed, trong khoảng 3,5-3,75%, có đủ cao để làm chậm nền kinh tế và giảm lạm phát hay không. Nhóm ủng hộ tăng lãi suất đã chỉ ra các yếu tố để hậu thuẫn lập trường của họ bao gồm tiêu dùng mạnh mẽ, sự bùng nổ đầu tư vào AI và nhu cầu lao động và vay vốn duy trì ở mức cao. Nhóm này cho rằng Fed sẽ không giữ được uy tín nếu tiếp tục nói sẽ đưa được lạm phát về 2% mà không tăng lãi suất.
Ngược lại, một số quan chức Fed chỉ ra lý do khiến áp lực giá cả có thể giảm. Các công ty bán hàng cho người tiêu dùng đang "rất dè dặt” với việc tăng giá - Chủ tịch Fed chi nhánh Richmond Tom Barkin nhấn mạnh trong một cuộc trả lời phỏng vấn vào tháng trước. Ông nói rằng người tiêu dùng đang có khuynh hướng chuyển sang các sản phẩm rẻ hơn hoặc trì hoãn các giao dịch mua sắm lớn.
Khi Fed rơi vào tình trạng chia rẽ, sẽ phải có một người đứng lên để đưa ra quyết định, và trong những trường hợp khó khăn, đó là Chủ tịch Fed. Nhưng ông Warsh, từ trước khi lên cầm quyền tại Fed, đã nêu rõ lập trường hạn chế việc tiết lộ quan điểm của mình. Ông đã dành cả một thập kỷ để lập luận rằng các ngân hàng trung ương nói quá nhiều thông qua việc đưa ra các dự báo và rồi sau đó các dự báo dần trở thành cam kết.
Ông Warsh có một số công cụ để tạo ra sự đồng nhất quan điểm trong FOMC. Nếu Fed quyết định không tăng lãi suất, ông có thể thuyết phục những người ủng hộ chính sách thắt chặt không phản đối quyết định này bằng cách thêm một cụm từ vào tuyên bố sau cuộc họp rằng lý do cho việc tăng lãi suất đang tăng lên.
Trong cuộc họp tháng 7, ông Warsh đã không cố gắng thuyết phục như vậy, và đã có ba người bỏ phiếu tăng lãi suất, con số cao nhất trong một thập kỷ.
Tại các cuộc họp của Fed từ khi ông Warsh trở thành Chủ tịch, ông cũng chưa đưa ra một đánh giá chi tiết nào về sức khỏe nền kinh tế Mỹ.
Trước cuộc họp đầu tiên của ông Warsh trên cương vị Chủ tịch Fed vào tháng 6 - cuộc họp mà FOMC viết lại tuyên bố chính sách để nhấn mạnh cam kết giảm lạm phát - một quan chức đã cảnh báo rằng cách diễn đạt mới như vậy sẽ được diễn giải là Fed nghiêng về thắt chặt, và cách hiểu như vậy sẽ ổn miễn sao FOMC sẵn sàng tăng lãi suất.
Thị trường đã hiểu điều đó, và đặt cược vào một đợt tăng lãi suất của Fed trong tháng 9 đã tăng lên.
DIỄN BIẾN LỢI SUẤT TRÁI PHIẾU LÀM KHÓ CÔNG VIỆC CỦA CHỦ TỊCH FED
Chiến lược kín tiếng của ông Warsh đã đối mặt với thực tế tại cuộc họp thứ hai của ông vào tháng 7. Tại một cuộc họp báo sau đó, ông không trả lời trực tiếp các câu hỏi của phóng viên về việc lập trường lãi suất của Fed sẽ giúp giảm lạm phát như ông đã hứa như thế nào.
Những nghi ngờ đã xuất hiện về việc ông Warsh sẽ dẫn dắt Fed đi tới đâu. "Nếu ông Warsh mang đến FOMC sự khó đoán định mà ông đã thể hiện trước thị trường ngày hôm nay, chúng tôi sẽ rất nghi ngờ về việc các đồng nghiệp của ông sẽ cảm thấy bị thuyết phục", ông Tim Duy, nhà kinh tế trưởng tại công SGH Macro Advisors, nhận định trong một báo cáo sau cuộc họp tháng 7 của Fed.
Khi ông Warsh phát biểu tại cuộc họp báo tháng 7, lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ ngắn hạn giảm nhưng lợi suất trái phiếu kho bạc 30 năm đạt mức cao nhất kể từ năm 2007, và lãi suất vay thế chấp nhà kỳ hạn 30 năm tăng lên khoảng 6,75%, mức cao nhất trong năm nay. Những chuyển động lợi suất này cho thấy các nhà đầu tư nghĩ rằng Fed có thể chấp nhận một chút lạm phát hơn bây giờ, và có nguy cơ phải tăng lãi suất mạnh hơn về sau này.
Mỗi chủ tịch Fed đều phải trải qua một quá trình “học tập” sau khi được giao cương vị này, và khó có chuyện một chủ tịch Fed mới có thể xoay chuyển tình hình chỉ trong một hoặc hai cuộc họp - ông Mickey Levy, một nhà kinh tế tại Viện Hoover, nơi ông Warsh đã làm việc trong 15 năm qua, nhấn mạnh. Nhưng ông Levy cũng nói rằng Warsh cuối cùng sẽ cần phải nói liệu chính sách tiền tại hiện đã mang tính thắt chặt hay chưa, và làm thế nào để đưa lạm phát trở lại 2%. "Đó là điều đang thiếu hiện nay, và ông ấy sẽ phải làm được điều đó”, ông nhận xét.
Ông Warsh đã có ý nói rằng việc lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ tăng trước cuộc họp tháng 7 có đồng nghĩa thị trường đang giúp Fed làm một phần công việc thắt chặt chính sách tiền tệ. Thời gian gần đây, lợi suất tiếp tục xu hướng tăng.
Ông Warsh lập luận rằng bằng cách không cung cấp thông tin chi tiết cho thị trường, Fed có thể lắng nghe từ chính thông tin chuyên sâu trên thị trường tài chính - những gì ông gọi là một nhà kinh tế rất giỏi.
Nhưng logic đó dựa trên giả định rằng thị trường chỉ phản ứng với tin tức về nền kinh tế thay vì cả thông tin từ các nhà hoạch định chính sách. Giả định này chắc chắn bị nghi ngờ, vì các tín hiệu lãi suất ngắn hạn của Fed là một trong những yếu tố chính quyết định lợi suất.
Logic trên càng trở nên phức tạp hơn vào tuần trước khi Bộ trưởng Tài chính Mỹ Scott Bessent công bố tăng quy mô của kế hoạch mua lại trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn dài. Ông nói rằng các yếu tố cơ bản của nền kinh tế không được phản ánh chính xác qua mức lợi suất mà thị trường đang thiết lập. Ông Bessent cũng đã nói rằng lạm phát không phải là vấn đề như những gì mà những người ủng hộ chính sách thắt chặt của Fed đánh giá.
Nếu việc giảm lãi suất trong hai năm qua - để hỗ trợ thị trường lao động hóa ra mạnh mẽ hơn so với đánh giá của giới chức Fed - là một sai lầm, câu trả lời là đảo ngược các đợt cắt giảm đó ngay bây giờ. Đây sẽ là một việc khó xử đối với ông Warsh. Tổng thống Trump và ông Bessent từ năm ngoái đã kêu gọi giảm lãi suất thêm, và ông Warsh - trong những tháng trước khi trở thành Chủ tịch Fed - đã không phản đối.
Mặt khác, nếu lạm phát trở nên dai dẳng là do thuế quan vào năm ngoái và giá năng lượng cao hơn trong năm nay, thì những sai lầm gần đây của Fed chủ yếu là do không may, thay vì do đánh giá không chuẩn xác về nền kinh tế. Điều đó sẽ không thể phá hỏng quan điểm cải cách Fed của ông Warsh, nhưng có thể làm suy yếu quan điểm đó.
Một khả năng thứ ba - mà ông Warsh đã đưa ra trong nhiều năm - là cần phải có một cách tiếp cận hoàn toàn khác đối với lạm phát. Các mô hình của Fed coi việc giá cả tăng là hiện tượng diễn ra trên diện rộng, và tiền lương được đặt gần vị trí trung tâm, cho phép Fed xử lý lần lượt từng cú sốc lạm phát bằng cách quyết định cú sốc nào có thể bỏ qua. Tuy nhiên, trong khuôn khổ đó, hoàn toàn không có chỉ dẫn nào giúp Fed đánh giá đúng bản chất của một đợt bùng nổ đầu tư làm tăng giá cả mà không kéo theo sự gia tăng tiền lương ngay từ đầu.
Nói cách khác, nhiệm kỳ chủ tịch Fed của ông Warsh có thể xoay quanh việc đưa ra một chiến lược cho một ngân hàng trung ương vận hành trong một thế giới của phi toàn cầu hóa, giảm nhập cư và xung đột tái diễn - một thế giới không giống như những năm 1990 mà ông coi là một mô hình, Wall Street Journal kết luận.
Bài gốc đăng trên VnEconomy
Nội dung thuộc về tác giả và toà soạn.