Định giá cổ phiếu ngân hàng vẫn đang ở vùng hấp dẫn
Theo Chứng khoán Yuanta, định giá cổ phiếu ngành ngân hàng vẫn hấp dẫn với P/BV 2026E toàn ngành ở mức 1,2x, cùng ROE đạt 17%.

Lợi nhuận sau thuế cổ đông công ty mẹ toàn ngành ngân hàng trong quý 2/2026 tăng bứt phá 18% so với quý trước và tăng 25% so với cùng kỳ năm trước), đạt 88 nghìn tỷ đồng. Độ rộng tăng trưởng khá tích cực với 18 ngân hàng ghi nhận lợi nhuận tăng, 6 ngân hàng sụt giảm và 3 ngân hàng có lợi nhuận gần như đi ngang so với cùng kỳ năm trước.
Yếu tố biến động đáng chú ý nhất trong kết quả quý 2/2026 là VCB ghi nhận 4.100 tỷ đồng bật tăng mạnh 374% so với quý trước, +252% so với cùng kỳ năm trước ở khoản thu nhập thuần khác, chủ yếu từ thu hồi nợ xấu, và cắt giảm chi phí dự phòng giảm xuống 503 tỷ đồng giảm 80% so với quý trước và giảm 38% so với cùng kỳ năm trước.
Hai yếu tố này đóng góp phần lớn vào mức tăng trưởng PATMI +65% so với cùng kỳ năm trước của VCB. Nếu giả định thu nhập thuần khác của VCB ngang bằng với quý 1/2026, PATMI toàn ngành quý 2/2026 vẫn duy trì mức tăng trưởng ấn tượng +20% so với cùng kỳ năm trước.
Ba động lực tăng trưởng chính của toàn ngành gồm: Thứ nhất, NIM cải thiện. NIM toàn ngành (27 ngân hàng) tăng lên 3,15% (+16 điểm cơ bản so với quý trước) nhờ kéo dài kỳ hạn cho vay và chuyển dịch sang các khoản cho vay có lợi suất cao hơn.
Thứ hai, tăng trưởng tín dụng bứt phá. Tăng trưởng tín dụng đạt +9,2% từ đầu năm đến quý 2/2026.
Thứ ba, đòn bẩy hoạt động cải thiện: Tỷ lệ CIR điều chỉnh giảm xuống 31,3% (-2,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước), trong khi thu nhập từ phí tăng lên 14,2% (+4,2 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước) trên tổng doanh thu điều chỉnh.
CASA vẫn là lợi thế cạnh tranh cốt lõi, nhưng khoảng cách đang hẹp lại. MBB, TCB và VCB duy trì tỷ lệ CASA trên 30% và nằm trong số ít ngân hàng bảo vệ được NIM trong quý 2/2026. Dù vậy, cả ba đều ghi nhận tỷ lệ CASA sụt giảm so với cùng kỳ: TCB (-1,4 điểm phần trăm), VCB (-3,0 điểm phần trăm) và MBB (-3,3 điểm phần trăm).
Đáng chú ý, đà tăng CASA của TCB trong quý 2/2026 chủ yếu đến từ tiền gửi khách hàng doanh nghiệp - vốn có tính biến động cao hơn khách hàng cá nhân. Sự khác biệt hiện nay không chỉ nằm ở quy mô CASA mà còn ở tính bền vững của dòng tiền gửi này.
Hiện chỉ có 4 ngân hàng duy trì LLR trên 100%, gồm VCB, CTG, TCB, ACB, và 5 ngân hàng có LLR dưới 60%, gồm STB, VPB, MSB, HDB, VIB.
Ngoài ra, việc kéo dài kỳ hạn cho vay làm gia tăng rủi ro kỳ hạn, trong khi mặt bằng lãi suất cao hơn có thể đẩy nợ xấu gia tăng trong thời gian tới.
Về cổ phiếu, định giá ngành vẫn hấp dẫn với P/BV 2026E toàn ngành ở mức 1,2x, cùng ROE đạt 17%. ACB hiện giao dịch ở mức P/BV 2026E là 1,2x so với ROE 18,0% và chất lượng tài sản tốt, tạo ra biên an toàn vững chắc.
TCB giao dịch ở mức P/BV 1,1x so với ROE 16% và đạt hiệu suất sinh lời trên tài sản (ROA) 2,40% — cao nhất ngành. VCB đang giao dịch ở mức thấp hơn 2 độ lệch chuẩn (-2SD) so với trung bình 10 năm. Nhà đầu tư nên tiếp tục tích lũy VCB nhờ: Yếu tố hỗ trợ nâng đỡ NIM; Sự linh hoạt trong trích lập dự phòng; và chất xúc tác từ kế hoạch phát hành riêng lẻ sắp tới.
HDB giao dịch ở mức P/BV 2026E là 1,3x, cao hơn một chút so với mức trung vị ngành. HDB xứng đáng có mức premium so với các ngân hàng đối thủ nhờ hiệu quả vận hành vượt trội với ROE đạt 25% (so với trung vị ngành là 17%). Yếu tố hỗ trợ: Kế hoạch niêm yết HDS, HD SAISON, và đợt phát hành riêng lẻ của HDB sẽ là động lực tăng giá mạnh mẽ cho cổ phiếu.
Bài gốc đăng trên VnEconomy
Nội dung thuộc về tác giả và toà soạn.